Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

U NANG BUỒNG TRỨNG:KHÔNG THỂ XEM THƯỜNG

U nang buồng trứng chiếm tỉ lệ khoảng 80% các khối u buồng trứng nói chung, là loại khối u rất hay gặp ở phụ nữ, đặc biệt phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ. Đại đa số là u lành tính, chỉ một tỉ lệ nhỏ có biến chứng ung thư hóa.

                                                                     Ảnh Minh Họa

Khi phát hiện u nang buồng trứng, nên được điều trị sớm để tránh hợp bỏ sót ung thư buồng trứng - một trong những nguy cơ gây tử vong cao cho người phụ nữ.

U nang cơ năng: nhưn g khôi u phat sinh do rối loạn hoạt động nội tiết của buồng trứng, về mặt giải phẫu bệnh tổ chức buồng trứng không có thay đổi. Nang bọc noãn: nang trứng chín không vỡ, không rụng trứng. Nang này tiếp tục lớn lên, có thể to trên 10cm, tiếp tục chế tiết oestrogen làm bệnh nhân chậm kinh. Khi nang vỡ đôi khi có thể gây chảy máu nhiều trong ổ bụng cần phải mổ cấp cứu.
Nang hoàng tuyến: hay gặp ở những bệnh nhân chửa trứng, ung thư nguyên bào nuôi, đa thai, bệnh nhân điều trị vô sinh.

U nang thực thể: ở những khối u này thực sự có biến đổi về tổ chức học buồng trứng, vì vậy đây là những khối u có nguy cơ ung thư hóa: U nang nước buồng trứng là dạng hay gặp nhất, chiếm khoảng 40% các khối u nang buồng trứng. Nếu trên bề mặt u có các mạch máu tăng sinh hình lược, hay có các nhú trên bề mặt hoặc trong lòng u là những dấu hiệu nghi ngờ ung thư hóa. U nang nhầy buồng trứng: chiếm khoảng 20% các khối u buồng trứng, u thường to, có thể đến vài chục kilôgam, thường hay dính vào các tổ chức xung quanh.

U nang bì buồng trứng: chiếm khoảng 25%, thường gặp u quái, tổ chức u rất đặc biệt, thành khối u có cấu trúc tương tự như da, có lớp sừng, tuyến bã... bên trong nang thường chứa tóc, răng, bã đậu…
Lạc nội mạc tử cung dạng u nang: tổ chức nội mạc tử cung phát triển ngay trên bề mặt buồng trứng, gây phá hủy tổ chức buồng trứng lành. Nang thường nhỏ, vỏ mỏng, dính vào các tổ chức xung quanh, bên trong chứa đầy dịch màu chocolate. U thường gây đau, dính nhiều làm tắc vòi trứng gây vô sinh.

Các biến chứng của u nang buồng trứng
Các biến chứng này có thể xuất hiện sớm hay muộn tùy thuộc từng bệnh nhân, nhiều trường hợp biến chứng là cơ hội chẩn đoán bệnh:

Xoắn u nang: có thể xảy ra với bất kỳ loại u nào, những u nhỏ, có cuống dai, không dính là những u dễ bị xoắn.

Khi u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, liên tục, có thể buồn nôn, nôn, đôi khi có thể choáng vì đau. Bụng trướng, ấn đau hạ vị và 2 hố chậu, có phản ứng thành bụng. Thăm âm đạo thấy khối u rất căng, ít di động, ấn đau chói.

Vỡ nang: bệnh nhân thường đau bụng đột ngột, liên tục, hạ vị và 2 hố chậu ấn đau, có phản ứng. Một số trường hợp vỡ nang gây chảy máu trong bệnh nhân có thể choáng mất máu. Thăm âm đạo thấy khối u khó xác định, di động tử cung đau, cùng đồ sau đầy, đau. Thường xảy ra sau khi vỡ nang, bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, bụng trướng, có thể có cảm ứng phúc mạc, thăm âm đạo thấy u dính, ít di động, ấn đau.

Chèn ép các tạng xung quanh: biến chứng này thường muộn, khi u đã phát triển lâu, kích thước lớn. U chèn ép bàng quang gây đái rắt, chèn ép trực tràng gây táo bón, đôi khi chèn ép niệu quản gây ứ nước bể thận, thậm chí có những khối u buồng trứng rất lớn chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây tuần hoàn bàng hệ, phù 2 chi dưới,cổ trướng...

Các biểu hiện bệnh ít đặc hiệu
Khi chưa có biến chứng, khối u nang buồng trứng thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Một số bệnh nhân có thể chậm kinh, rối loạn kinh nguyệt, một số khác có cảm giác tức nặng ở vùng bụng dưới, nhưng các triệu chứng đều mơ hồ và không đặc hiệu. Trong đa số các trường hợp, thăm âm đạo sẽ thấy một khối u biệt lập với tử cung, thường căng, ấn không đau, di động. Khối u có thể dính trong một số ít trường hợp như u nang nhầy, u nang dạng lạc nội mạc tử cung, u nang có biến chứng ung thư hóa... Kích thước khối u to nhỏ tùy trường hợp, nói chung thường dưới 10cm.

Siêu âm tiểu khung là phương pháp khá đơn giản, độ chính xác cao, có thể cho phép xác định loại u nang và phát hiện các yếu tố nghi ngờ ác tính. Chụp cắt lớp, cộng hưởng từ thường chỉ áp dụng trong những trường hợp khó, u quá to, để chẩn đoán phân biệt với các khối u khác của tiểu khung như u trực tràng, u mạc treo…
Phẫu thuật u nang khi nào?
Cần phân biệt u nang cơ năng và u nang thực thể vì 2 loại u này có thái độ xử trí rất khác nhau. Các u nang cơ năng thường không cần điều trị, tự mất đi sau vài vòng kinh. Cũng có thể cho bệnh nhân dùng thuốc tránh thai kết hợp để điều trị u nang cơ năng, tuy nhiên hiệu quả chưa rõ ràng. Đôi khi các u nang cơ năng cũng có biến chứng như xoắn nang, vỡ nang chảy máu... đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu, nhưng thường hiếm gặp. Ngược lại, các u nang thực thể khi được phát hiện cần mổ càng sớm càng tốt để tránh biến chứng. Tùy theo kích thước và tính chất khối u cũng như nguyện vọng sinh đẻ của bệnh nhân mà chọn phương pháp phẫu thuật triệt để cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng bên bệnh hay chỉ bóc tách khối u để lại phần buồng trứng lành, mặc dù bóc tách khối u có thể làm tăng nguy cơ tái phát u nang buồng trứng.

BƯỞI NON CHỮA BỆNH GAN NHIỄM MỠ

Gan nhiễm mỡ là hiện tượng mỡ trong tế bào gan tích tụ vượt quá lượng mỡ giới hạn phân bổ bình thường. Bình thường gan chỉ chứa lượng mỡ khoảng 3-5% trong gan. Khi trong gan có 10-25% mỡ trong gan gọi là gan nhiễm mỡ trung bình, còn trên 25% là gan nhiễm mỡ nặng.

                                                                    Ảnh Minh Họa


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến gan nhiễm mỡ như: Quá thừa dinh dưỡng, uống nhiều rượu, do uống thuốc, do nội tiết… Khi gan bị nhiễm mỡ làm ảnh hưởng đến chức năng của gan, gây chán ăn trướng bụng, dần dần xơ hóa tế bào gan. Gần đây ở một số nơi có kinh nghiệm dùng quả bưởi non rửa sạch, thái miếng mỏng, phơi sấy khô rồi sao vàng sắc uống để chữa bệnh gan nhiễm mỡ có kết quả.


Điều này hoàn toàn phù hợp và qua phân tích trong vỏ bưởi có chứa 2,5-3,2% flavonoid neohesperidin, poncirun, isosakuranetin… Flavonoid là polyphenon có tác dụng bảo vệ tế bào gan, nhuận gan, lợi mật, nâng cao tính bền của thành mạch, chống xơ vữa động mạch, có tác dụng chữa gan nhiễm mỡ.

Để chữa gan nhiễm mỡ có thể dùng quả bưởi non như sau: Ngắt quả bưởi non (quả có vỏ xanh, nhỏ, vị đắng, múi còn khô) thái thành lát mỏng đem phơi cho khô, cho vào chảo sao cho chuyển sang màu vàng, có mùi thơm và khô kiệt. Mỗi ngày dùng 30-50g bưởi non sao khô cho vào 500ml nước, sắc kỹ trong 30 phút, chắt lấy nước chia uống 3 lần trong ngày. Nước sắc bưởi non sao vàng có màu nâu nhạt, mùi thơm, vị đắng, có tác dụng làm giảm mỡ trong máu, chữa bệnh mỡ máu và gan nhiễm mỡ.

KHÁNG SINH GÂY TIÊU CHẢY-VÌ SAO?

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, có thể do vi khuẩn, do virut, do nhiễm ký sinh trùng nhưng cũng có thể do dùng kháng sinh. Đây là một tác dụng phụ không mong muốn khi dùng kháng sinh cho trẻ. Hầu hết thường nhẹ và tự hết khi bạn ngưng dùng kháng sinh. Đôi khi có một loại tiêu chảy nặng xảy ra gọi là viêm ruột màng giả.

                                                                            Ảnh Minh Họa


Tại sao thuốc kháng sinh gây tiêu chảy?
Bình thường trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn lành tính với nhiều loài khác nhau. Các vi khuẩn này luôn duy trì ở thế cân bằng, nhằm tăng cường quá trình tiêu hoá, hấp thụ chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột.

Kháng sinh là một chất mà ngay ở nồng độ thấp nhất cũng có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Kháng sinh có nhiều nhóm khác nhau, trong mỗi nhóm có nhiều loại biệt dược, vì vậy khi muốn sử dụng một loại kháng sinh nào đó người thầy thuốc phải biết được kháng sinh đó thuộc nhóm nào, nhất là khi muốn kết hợp kháng sinh.

Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài, thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.

Bất kỳ loại kháng sinh nào cũng có thể gây ra sự mất cân bằng vi khuẩn trong cơ thể, nhất là các kháng sinh phổ rộng hiện nay. Các loại kháng sinh hay gây tiêu chảy nhất là ampicillin, các cephalosporin, erythromycin và clindamycin.

Biểu hiện của bệnh
Hầu hết các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh là nhẹ với biểu hiện chính là đi ngoài phân sống, phân lỏng nhiều lần trong ngày.

Trong một số trường hợp trẻ suy giảm miễn dịch, trẻ suy dinh dưỡng, có bệnh lý nặng kèm theo, khi dùng kháng sinh phổ rộng, liều cao, kéo dài có thể gây ra tình trạng tiêu chảy nặng hơn, được gọi là viêm đại tràng giả mạc. Trong trường hợp này, các biểu hiện có thể gặp bao gồm: tiêu chảy, phân nhiều nước và có thể có máu; đau bụng; buồn nôn và nôn, sốt.

Làm thế nào để phân biệt được trẻ bị tiêu chảy do uống kháng sinh với trẻ bị tiêu chảy do ngộ độc thức ăn hay tiêu chảy do nhiễm virut?

Trong hầu hết các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh là không có sốt, triệu chứng tự hết sau khi ngừng kháng sinh; trong khi tiêu chảy do các nguyên nhân nhiễm khuẩn trẻ đều có sốt, mức độ tiêu chảy nặng hơn, kèm theo các biểu hiện tiêu hóa khác như nôn, đau bụng.

Tuy nhiên, với các trường hợp viêm đại tràng giả mạc do kháng sinh, cần đưa trẻ đến bác sĩ và xét nghiệm phân để chẩn đoán phân biệt.

Những lưu ý trong điều trị
Hiện nay vẫn còn có hiện tượng tự mua thuốc để điều trị cho trẻ cho dù không biết trẻ bị bệnh gì, nghĩa là người mẹ cứ thấy con mình ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc hơi sốt là mua kháng sinh cho trẻ dùng. Chình vì vậy để hạn chế tác dụng không mong muốn của kháng sinh nói chung và loạn khuẩn ruột do kháng sinh gây ra nói riêng, trước hết các bà mẹ cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của bác sĩ, không tự ý mua thuốc kháng sinh điều trị cho trẻ.

Với trường hợp nhẹ, khi ngừng kháng sinh đang sử dụng thì triệu chứng thuyên giảm rõ rệt hoặc có thể khỏi hẳn.

Trong trường hợp loạn khuẩn mà vẫn phải sử dụng kháng sinh hoặc bị loạn khuẩn nặng thì phải điều trị hỗ trợ thêm các chế phẩm vi sinh có chứa probiotic và prebiotic có tác dụng cân bằng lại các chủng vi khuẩn đường ruột. Tuy nhiên, với trường hợp kết hợp với các chế phẩm vi sinh mà không có hiệu quả cần đưa bé tới gặp bác sĩ để thay thế bằng kháng sinh khác.

Trong trường hợp tiêu chảy nặng cần đưa trẻ tới cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời. Không tự ý sử dụng men tiêu hóa trong các trường hợp tiêu chảy do kháng sinh.

GIẢM TRIỆU CHỨNG NGHẸT MŨI

Khi thời tiết thay đổi, một số người có thể trạng yếu, sức đề kháng kém rất dễ bị cảm cúm, nghẹt mũi, chảy nước mũi. Một số biện pháp sau đây có thể giúp hạn chế tình trạng này.

                                                                    Ảnh Minh Họa

- Uống nhiều nước trái cây và nước lọc giúp lớp niêm mạc mũi và các xoang ẩm, ít nhạy cảm với vi khuẩn và nhiễm trùng, tăng sức đề kháng. Bổ sung các vitamin, khoáng chất kháng khuẩn cho cơ thể, ngăn ngừa hoặc rút ngắn thời gian bị cảm.

- Với môi trường làm việc có máy điều hòa, thường xuyên khử phòng với dung dịch riêng biệt. Độ ẩm trong phòng sạch sẽ rất tốt cho hệ hô hấp. Nếu không được làm vệ sinh thường xuyên, có thể khiến tình trạng nghẹt mũi và chảy nước mũi kéo dài, lâu khỏi bệnh.

- Tắm vòi sen nước ấm hoặc đun nước ấm thêm tinh dầu bạc hà hay bạch đàn và xông hơi giúp thu nhỏ màng nhầy sưng, thông thoáng mũi. Tập thể dục đóng vai trò như một loại thuốc thông mũi tự nhiên, thu hẹp các mạch máu bị sưng, tăng sức đề kháng giúp cơ thể mau khỏe mạnh.

- Sử dụng thuốc xịt mũi nước muối, hoặc làm sạch mũi bằng nước ấm, có tác dụng kháng vi khuẩn và giữ ẩm cho mũi. Tránh các chất kích thích gây ra tình trạng chảy nước mũi: khói, bụi, phấn hoa, lông động vật...

- Nếu mũi bị nứt nẻ và đau, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng dược phẩm điều trị. Để tránh lây lan hoặc làm gia tăng vi khuẩn, cần vệ sinh thân thể, rửa tay sạch và thường xuyên. Sử dụng khăn giấy xài một lần thay vì khăn tay để hạn chế sự tồn tại của vi khuẩn.

TÌM HIỂU BỆNH VIÊM XOANG

Bệnh nhân thường thấy ngạt, tắc mũi, chất tiết mũi trở nên đục, đổi màu xanh đục, nước mũi chảy ra trước hoặc sau cổ họng, gây ngứa họng và kích thích họng. Tùy theo tình trạng viêm mà tắc một hay cả hai bên, mức độ nhẹ hay vừa, từng lúc hay tắc liên tục.

                                                                   Ảnh Minh Họa

Viêm xoang là một bệnh mãn tính thường gặp ở nước ta, tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ về nguồn gốc, các phòng ngừa và điều trị bệnh này.

Mặt và sọ gồm nhiều khối xương tiếp với nhau. Để khối mặt sọ giảm sức nặng, tạo hoá đã tạo ra những lỗ trống trong lòng các xương. Những lỗ trống này được gọi là xoang. Xoang lớn nhỏ tuỳ từng vị trí và đều có đường thông vào hốc mũi và bao bởi niêm mạc, chứa không khí. Xoang chỉ bình thường khi lỗ thông mũi không bị nghẽn.

Nếu đường thông vào mũi bị nghẽn, vi khuẩn sẽ gây tác hại trong xoang, dẫn tới viêm nhiễm. Có thể viêm một xoang (thường là xoang hàm) hoặc đa xoang và nhiều loại như: viêm xoang dị ứng, dày niêm mạc xoang, trong xoang có mủ, u nhầy hoặc polýp (dạng u nhí lành tính, có cuống).

Phân loại viêm xoang
Viêm xoang được phân loại dựa vào thời gian tiến triển của bệnh (cấp, bán cấp, mạn) và theo tình trạng viêm (nhiễm trùng, không nhiễm trùng).

Viêm xoang cấp kéo dài ít hơn 3 ngày; bán cấp từ 1 đến 3 tháng, mạn là hơn 3 tháng. Viêm xoang nhiễm trùng do vi khuẩn phát triển, gây kích thích (điều kiện tổn thương) hay dị ứng. Viêm xoang cấp thường thứ phát sau viêm mũi dị ứng, nhiễm siêu vi đường mũi. Viêm xoang bán cấp và mạn là kết quả của việc điều trị viêm mũi cấp không triệt để.

Nguyên nhân
- Mọi lý do cản trở luồng không khí vào và mang, dẫn lưu chất tiết ra khói xoang đều khiến chất dịch thoát không kịp, làm cho lỗ thông phù nhỏ thêm. Ứ đọng chất nhầy là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, cũng như một số loại nấm phát triển trong các xoang.

- Cơ địa dị ứng một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biến chất, làm cho niêm mạc mũi phù nề, gây bít tắc lỗ thông xoang và nhiễm trùng.

- Sức đề kháng kém, cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn, suy giảm miễn dịch, suy yếu niêm mạc dường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật. Bệnh nhân viêm xoang kèm theo viêm một số bộ phận khác.

- Tuyến nhầy của viêm mạc xoang hoạt động quá nhiều.

- Do viêm mũi sau nhiễm siêu vi (cúm, sởi...), bị bội nhiễm, viêm mũi dị ứng kéo dài hoặc do tình trạng vẹo vách ngăn. Có trường hợp viêm xoang là hậu quả của sâu răng, nhiễm trùng răng hàm trên. Dùng aspirin trong trường hợp không dung nạp được thuốc, làm nặng thêm polýp mũi xoang có sẵn.

Triệu chứng
Biểu hiện thường gặp khi bị viêm xoang là đau đầu, sốt nhẹ (25% bệnh nhân sốt bởi viêm xoang cấp), cũng có trường hợp sốt cao, nhất là ở trẻ em. Tăng nhạy cảm vùng mặt là triệu chứng chính, đau nhiều về sáng do đêm bị ứ đọng xuất tiết, đau thành từng cơn. Một số người hay choáng đầu khi nghiêng về phía trước. Vùng quanh mắt nhức thành cơn và theo nhịp mạch đập. Ấn thấy đau phía dưới mắt, cơn đau có chu kỳ vào thời gian nhất định trong ngày.

Bên cạnh đó, bệnh nhân thường thấy ngạt, tắc mũi, chất tiết mũi trở nên đục, đổi màu xanh đục, nước mũi chảy ra trước hoặc sau cổ họng, gây ngứa họng và kích thích họng. Tùy theo tình trạng viêm mà tắc một hay cả hai bên, mức độ nhẹ hay vừa, từng lúc hay tắc liên tục, không ngửi được mùi, ngạt nhiều bên đau, ngạt tăng vào ban đêm. Trường hợp viêm xoang do răng số 5,6,7 hàm trên sẽ thấy bị áp xe quanh răng. Lợi bị viêm, mủ chảy từ xoang ra rất thối, chảy mủ mũi vàng đục, có mùi hôi. Xì mạnh thường gây đau và lẫn tia máu. Người bệnh không tập trung suy nghĩ được. Đôi khi ăn không ngon, ngủ không yên giấc, ảnh hưởng đến sức khoẻ.

Nếu viêm xoang mạn tính thì nhóm xoang trước hầu như không khó chịu gì, không nhức đầu, chảy nước mũi, đôi khi mệt mỏi, có thể có triệu chứng xa như ở đường tiêu hoá, phế quản, thận khớp. Nhóm xoang sau bệnh nhân không chảy mủ, nhưng có dịch cuống họng, nhức mắt, đau nhức vùng gáy. Một số trường hợp mờ mắt do viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu.

Cách điều trị
Chữa trị viêm xoang, nếu được điều trị đúng sẽ cải thiện sớm và hiệu quả, nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải kiên trì kiêng cữ, tuân thủ đúng liều thuốc, thời gian, cũng như lời khuyên của bác sĩ. Có nhiều phương pháp điều trị xoang như:

Nội khoa: Kháng sinh, giảm đau, co mạch, chống dị ứng.

Thủ thuật: Xông mũi xoang, kê kê, chọc rửa xoang.

Đối với bệnh nhẹ không cần sử dụng đến kim, kéo, mà chỉ rửa xoang, làm sạch mũi. Biện pháp này không gây đau và chảy máu. Bên cạnh đó, dùng thuốc kháng sinh đủ liều, đều đặn để diệt vi khuẩn gây bệnh.

- Giữ nhiệt độ trong nhà vừa phải, xông mũi bằng hơi nước nóng, uống nước nhiều để làm loãng chất tiết. Thuốc chống sổ mũi giúp mủ và chất nhầy thoát ra, nhưng phải cẩn thận khi dùng vì dễ gây hại nhiều hơn khi làm khô mũi quá mức và các chất không thoát ra ngoài được.Kèm theo điều trị bằng thuốc, có thể rửa xoang bằng phương pháp Proetz rất hiệu quả, bệnh nhân sẽ cảm thấy dễ chịu sau vài lần rửa.

- Nếu không hiệu quả, bệnh nhân sẽ được phẫu thuật nội soi, nạo vét mủ đọng, chống viêm nhiễm lan toả. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, khả năng phục hồi đạt 80%.

Phòng ngừa bệnh xoang
- Đeo khẩu trang trước khi ra đường và làm công việc gặp nhiều bụi bặm. Giữ môi trường xung quanh luôn sạch sẽ, tránh xa khói bụi, chất thải, ăn uống đủ dinh dưỡng.

- Không dùng các loại tinh dầu quế, hồi làm cao để xoa cho trẻ mỗi khi tắc nghẹt mũi vì sẽ gây kích thích xung huyết da và niêm mạc đường hô hấp của trẻ.

- Đối với người mẫn cảm cần chú ý phòng tránh phấn hoa, nấm mốc, nước hoa, thức ăn lạ, nhiều gia vị, nhiệt độ thay đổi. Khi ngứa mũi, muốn hắt xì nhưng không được cũng tuyệt đối không nên cho tay vào ngoáy vì dễ mang vi trùng vào, khiến cho bệnh càng nghiêm trọng thêm. Nhớ chỉ xì mũi ra, không hít ngược như trẻ nhỏ thường làm. Không cố gắng xì mạnh vì sẽ đẩy chất viêm vào vòi nhĩ và tai.

- Bệnh có thể lây lan, vì vậy không dùng chung vật dụng cá nhân với người bị viêm xoang.

- Khi có các triệu chứng ban đầu như hắt hơi, chảy nước mũi, tắc mũi, cần đến ngay bệnh viện, không nên tự mua thuốc điều trị.

CỦ CẢI CHỮA KHẢN TIẾNG

Củ cải trắng có hiệu quả rõ rệt đối với các bệnh đường hô hấp như đau họng, ho, khó thở. Nó cũng là vị thuốc chữa loét miệng, sỏi mật, táo bón…và hỗ trợ điều trị ung thư.

                                           Củ Cải được dùng trong nhiều món ăn chữa bệnh

Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát. Củ cải nấu chín vị ngọt, tính bình, vào kinh phế và vị.

Củ cải trắng chứa 92% nước, 1,5% protit, 3,7% gluxit, 1,8 xenlulô. Lá và ngọn chứa tinh dầu và một lượng đáng kể vitamin A và C. Một số bài thuốc từ củ cải như sau.

Trị chứng khản tiếng, không nói được: Củ cải sống 300g rửa sạch vắt lấy nước, gừng sống 20g giã vắt lấy nước, trộn hai thứ vào nhau rồi uống ngày 3 lần, uống 2 ngày là khỏi.

Trị chứng chảy máu cam: Củ cải sống 300g rửa sạch giã vắt lấy 1/2 bát nước hoà thêm một ít rượu rồi đun nóng, lấy nước này nhỏ vào mũi ngày 3 – 4 lần.

Trị chứng lở loét miệng do nhiệt: Giã củ cải sống 300g rồi vắt lấy nước hoà thêm một ít nước lọc, súc miệng ngày 3 lần, dùng 2 ngày khỏi.

Trị đại tiện ra máu: Củ cải sống 200g giã nát, lọc lấy một chén nước nhỏ cho 4 thìa nhỏ nước mật ong, đun chín và uống nước này vào buổi sáng hằng ngày.

Trị đau sỏi mật: Củ cải sống 300g thái to thành từng miếng như ngón tay, tẩm với mật ong màu vàng nhạt, không dùng mật ong màu nâu sẫm. Đặt củ cải đã tẩm mật ong lên chảo rồi sấy khô trên than hoặc lửa. Khi khô lại tẩm mật ong và sấy khô không để chảy nước, ăn củ cải sấy khô và uống một ít nước muối loãng ngày 2 lần, dùng trong một tháng.

Trị chứng nước tiểu đục: Người bị nước tiểu đục do lo nghĩ nhiều hoặc tửu sắc quá độ lấy 200g củ cải trắng khoét rỗng bỏ hết ruột bên trong rồi nhét đầy ngô thù du (có bán hiệu thuốc Bắc), đậy kín lại. Hấp chín củ cải bằng chõ rồi lấy ra bỏ hết ngô thù du, củ cải sấy khô, tán bột cho thêm chút bột quấy đặc vào và viên lại thành viên nhỏ như hạt đậu xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống khoảng 30 – 40 viên với nước, rất hiệu nghiệm.

Hen suyễn, nhiều đờm: Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40-50 ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15-20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.

Trị đau do sỏi mật: Củ cải tươi đem thái thành từng miếng dày, rồi đem cho thấm mật ong. Sau khi tẩm, đem sấy khô, dùng củ cải đã tẩm sấy này.

CÂY MÙI TÀU TRỊ ĂN KHÔNG TIÊU

Nếu bị đầy hơi, ăn không tiêu, sổ mũi do nhiễm lạnh… bạn có thể dùng cây mùi tàu để cảm thấy dễ chịu hơn.

                                                                            Mùi Tàu
Cây mùi tàu được dùng làm rau gia vị, ăn sống hoặc nấu canh. Theo Đông y, mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hơi hắc, công dụng kích thích tiêu hóa, mạnh tì vị, khử độc, giải khí trướng, khử thấp nhiệt, trừ hàn tà…

Trị chứng ăn không tiêu: Khi bị lạnh bụng, ăn không tiêu, đầy trướng bụng thì lấy 50 gr rau mùi tàu rửa sạch, thái nhỏ, một củ gừng tươi nhỏ rửa sạch giã nát. Hai thứ trên cho vào niêu đất, đổ ba bát nước (bát ăn cơm) sắc khi còn một bát chia uống hai lần trong ngày. Mỗi lần uống cách nhau bốn giờ.

Trị chứng chướng khí, thở mệt: Lấy rau mùi tài tươi rửa sạch, phơi khô nơi thoáng mát. Mỗi lần sắc 30 – 40 gr với hai bát nước còn 2/3 bát thì chia uống làm hai lần.

Trị chứng đầy hơi: Khi bị đầy hơi, cảm sốt lấy 10 – 16 gr rau mùi tàu rửa sạch, vò nát, hãm như hãm chè tươi, chia uống nhiều lần trong ngày.

Trị chứng sổ mũi, sốt nhẹ do nhiễm lạnh
: Lấy 20 gr rau mùi tàu rửa sạch, thái khúc, 30 gr thịt bò băm nhỏ, vài lát gừng tươi. Đem nấu chín với 400 ml nước. Món này ăn nóng. Khi ăn cho thêm ít hạt tiêu. Sau khi ăn xong, đắp chăn kín cho ra mồ hôi sẽ khỏi.

HỆ LỤY DO UỐNG THUỐC DẠ DÀY KHÔNG ĐẦY ĐỦ

Viêm loét dạ dày vẫn là một trong các bệnh có tỷ lệ gặp cao trong cộng đồng. Thế nhưng người bệnh lại thường chữa trị không đến nơi đến chốn để tiền mất mà bệnh vẫn còn, thậm chí dẫn tới những biến chứng nặng nề...

                                                                     Ảnh Minh Họa

Dùng thuốc tùy tiện

Bệnh nhân Đỗ Thị Th., 55 tuổi (Khoái Châu, Hưng Yên) bị bệnh viêm dạ dày cách đây 3 năm. Ban đầu, bà thấy đau bụng lâm râm vùng sát mũi ức. Khám ở bệnh viện đa khoa tỉnh, bà được bác sĩ kê thuốc và hướng dẫn uống thuốc trong 7 ngày, rồi khám lại. Thế nhưng uống được 3 ngày, bà thấy hết đau và tự ý bỏ thuốc. Vài tháng sau, bệnh tái phát. Bà không đi khám nữa mà dùng theo đơn thuốc cũ. Và cũng như lần trước, uống thuốc thấy đỡ tưởng là bệnh đã khỏi nên lại dừng thuốc. Đến lần thứ ba, bệnh lại tái phát, bà lại mang “võ” cũ ra dùng nhưng không ổn. Đi khám và làm các xét nghiệm tại Bệnh viện 103, bác sĩ kết luận bà bị ung thư dạ dày. Bác sĩ còn cho biết đây có thể là hệ lụy từ việc uống thuốc không đầy đủ.

Việc không tuân thủ trong điều trị, hay dùng thuốc theo đơn cũ này cũng là tình trạng phổ biến ở những người bệnh dạ dày.

Đến hệ lụy
Đối với các loại vitamin, uống vài ba ngày rồi dừng có thể sẽ không gây ra những tác hại đáng kể nào, nhưng với thuốc điều trị viêm loét dạ dày thì lại khác. Việc uống thuốc tùy tiện thực sự tai hại với khả năng điều trị khỏi của bệnh. Chúng tôi muốn đề cập tới ở đây 3 khía cạnh của việc uống thuốc tùy tiện, đó là tự uống thuốc, tự dừng thuốc và tự ý thay đổi thuốc. Những hành động không đúng này có thể đưa bạn vào ba tình huống nguy hiểm sau đây:

Biến dễ khỏi thành khó khỏi
Sự cố đầu tiên đó là biến bệnh của bạn từ một ca bệnh dễ điều trị thành một ca bệnh khó điều trị. Thường thì ban đầu chúng ta không bị loét dạ dày mà có thể sẽ bị viêm dạ dày trước. Cần phải hiểu rằng, viêm dạ dày không đồng nhất với loét dạ dày. Viêm dạ dày thì nhẹ hơn, điều trị đơn giản và nhanh trong khi đó loét dạ dày thì nặng hơn, điều trị phức tạp và lâu hơn.

Khi bị viêm dạ dày nếu chịu khó dùng thuốc đúng theo bác sĩ chỉ định có thể khỏi hoàn toàn. Nhưng nếu không tuân thủ điều trị, uống thuốc nhát ngừng có thể tự chúng ta biến viêm thành loét dạ dày.

Tăng độ kháng thuốc
Nguyên nhân của viêm loét dạ dày là có nhiều. Tổ hợp các yếu tố được cho là có vai trò gây bệnh là rượu bia, thuốc lá, dùng thuốc nhiều tác dụng phụ, dạ dày tăng toan (tiết nhiều axit), nhiễm khuẩn Helicobacter pylori, dạ dày giảm tiết nhày… Nhưng có một yếu tố cố định và gần như bao giờ cũng được nhắc tới là axit (đây cũng là một yếu tố đáng kể nhất gây ra chứng bệnh này). Người ta vẫn hay nói vui với nhau rằng, không có axit thì không có loét. Việc không uống thuốc quy chuẩn sẽ gây ra tăng tiết axit.

Đó là vì trong phác đồ điều trị bao giờ người ta cũng dùng một loại thuốc giảm tiết axit, được gọi tắt là thuốc giảm tiết như cimetidin, quamatel, omeprazol, lanzoprazol… Dùng đúng thì chúng ức chế tiết axit rất hiệu quả. Nhưng dùng nửa vời thì chúng lại gây ra một phản xạ ngược: tăng tiết axit. Nghĩa là nếu đang dùng theo đà khỏi bệnh mà đột ngột dừng lại thì đồng loạt các tế bào tiết axit sẽ tăng tiết chất này. Hậu quả là axit được tiết ra nhiều hơn. Bệnh đi vào con đường nặng hơn, khó đáp ứng với điều trị hơn. Bệnh có nguy cơ kháng thuốc đang sử dụng.

Ung thư dạ dày
Những hệ lụy trên cũng đủ để người bệnh phải đi tới đi lui tới bệnh viện và phòng khám. Chán ngán là thế nhưng xem ra nó vẫn còn may mắn vì họ vẫn còn cơ hội để sửa sai và tiếp tục sống. Còn với biến chứng thứ ba này thì thực sự không may mắn. Họ sẽ rơi vào cảnh khốn cùng của bệnh tật, đó là ung thư. Người bệnh không những không được điều trị khỏi mà còn bị kết thúc cuộc sống của mình sớm hơn so với tuổi “trời đã định”.

Đây không phải là thông tin phóng đại cho việc dùng thuốc tùy tiện, song người ta thấy rằng có một tỷ lệ đáng kể số người bị biến chứng sang ung thư dạ dày từ loét, giới y học vẫn gọi đó là loét ung thư hóa. Người ta khảo cứu và thấy rằng, nếu một người bị loét dạ dày mà do nhiễm vi khuẩn HP thì họ có nguy cơ bị ung thư dạ dày cao hơn gấp từ 3-6 lần so với người khác. Và nếu như họ điều trị không đúng thì họ có thể bị nguy cơ ung thư cao từ 6-12 lần so với người điều trị khỏi.

Việc loét ung thư hóa là do loét dạ dày không được điều trị bài bản. Chúng cứ gần khỏi rồi lại tái phát. Lâu dần, chúng bị viêm mạn tính và trở thành những tế bào biến dị dạng ung thư. Điều này rất dễ xảy ra với người già, người loét tái phát, người điều trị muộn và người điều trị tự do.

Bởi vậy, người bệnh cần uống đúng thuốc, uống đủ thuốc, tuân thủ liệu trình điều trị (đủ ngày) và có sự kiêng khem cẩn thận theo hướng dẫn của thầy thuốc.

CÂY MÍT GIÀU DƯỢC TÍNH

Mít là loại cây to, cao khoảng 8-15m, có tên khoa học là artocarpus integrifolia linn, thuộc họ dâu tằm (moraceae). Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, tại các vùng đồng bằng và tới độ cao 1.000m, rất gần gũi với người dân nông thôn. Mít có nhiều loại như: mít mật, miest dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam). Ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận cây mít còn là vị thuốc hay.
                                                                   Ảnh Minh Họa

Các bộ phận làm thuốc

Hầu như tất cả các bộ phận của cây mít đều được dùng làm thuốc. Lá mít được dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, tiêu chảy và trị cao huyết áp. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá mít chữa các bệnh ngoài da và rắn cắn. Gỗ mít mài lấy nước uống có tác dụng an thần, liều dùng 6 - 10g/ngày. Trong khi đó, rễ cây mít sắc uống có thể trị tiêu chảy.

Quả mít to, dài chừng 30 - 60cm, đường kính 18 - 30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được. Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Xơ mít có thể dùng muối chua như muối dưa (gọi là nhút). Các quả mít non còn dùng như một loại rau củ để nấu canh, kho cá, trộn gỏi…

Hạt mít luộc, rang, nướng hay thổi với cơm ăn. Hạt mít có giá trị dinh dưỡng như các loại hạt và củ khác, được nhân dân dùng chống đói trong những ngày giáp hạt. Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng. Hạt mít có tác dụng bổ trung ích khí gây trung tiện, thông tiểu tiện.

Có tài liệu còn cho rằng trong hạt mít còn chứa một chất ức chế men tiêu hóa đường ruột nên khi ăn nhiều dễ bị đầy bụng.

Múi mít chín vàng óng, ăn ngon ngọt, đặc biệt có hương thơm rất đặc trưng, được coi là thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng long đờm. Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6 - 1,5% (tùy loại mít), glucid 11 - 14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như: sắt, canxi, phospho… Theo tài liệu của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), trong múi mít chứa nhiều chất đường, đạm, các loại vitamin A, B1, B2, C và nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

Món ăn bổ dưỡng từ mít
Mít lên men rượu: múi mít chín 1kg, đường trắng 300g, men rượu (bánh men thuốc Bắc) 2 bánh. Cách làm: lựa múi mít vừa chín tới, gỡ bỏ hạt, phần múi đem trộn với 150g đường. Men rượu đem tán nhỏ, rây mịn. Cho mít vào bình thủy tinh rộng miệng, cứ một lượt mít rắc một lượt men cho đến hết mít. Số men còn lại rắc trên cùng, đậy kín nắp. Khoảng 4 - 5 ngày sau, mít lên men rượu bốc mùi thơm. Lấy 2 lít nước lọc hòa với 150g đường còn lại đổ vào, đậy kín nắp để lên men tiếp. Khoảng 9 - 10 ngày sau, thấy nước lên men rượu trong bình lắng trong là được. Chắt nước ra, lọc qua phễu có lót bông cho trong, đóng vào chai, nút thật chặt (vì lượng đường trong rượu còn lại vẫn tiếp tục lên men, dễ làm bật nút). Rượu mít lên men có màu vàng nhạt, có gas và dậy mùi thơm của hương mít. Rượu mít khá bổ, uống lâu say vì mít có tính giải rượu, dùng khai vị trong bữa ăn như bia hay rượu vang.

Mít nấu đường: mít chín 30 múi to, đường trắng 300g, chanh tươi 1 quả. Chọn mít dai vừa chín, múi to thịt dày, loại bỏ hạt, thái miếng vuông. Cho đường vào xoong cùng với 300ml nước, đun sôi, cho mít vào đảo đều. Rút bớt lửa chỉ để sôi lăn tăn, khi mít chín trong, nước đường hơi sánh lại là được. Để mít nguội, đem ướp lạnh. Lúc ăn, lấy mít vào cốc, vắt chanh vào nước đường còn lại, khuấy đều, tưới lên mít, ăn mát lạnh, dùng tráng miệng sau bữa ăn, còn giúp giải rượu bia.

Món mít non xào thịt: quả mít non gọt vỏ gai, thái lát, đem xào với thịt lợn (heo) nạc, nêm thêm gia vị, dùng ăn với cơm. Món này, theo Đông y có tác dụng bổ tỳ, hòa can, tăng và thông sữa, thích hợp cho phụ nữ sau sinh bị ốm yếu, ăn kém, ít sữa.

Những cách chữa bệnh từ cây mít
Lá mít dày, hình bầu dục, dài 7 - 15cm. Thường được dùng làm thuốc bằng lá tươi cụ thể như:

Dùng làm thuốc lợi sữa: sản phụ sau khi sinh nếu ít sữa, dùng lá mít tươi (30 - 40g/ngày) nấu nước uống giúp sữa tiết ra hoặc tăng tiết sữa. Cũng có thể dùng cụm hoa đực (dân gian thường gọi là dái mít), hay quả non sắc uống để tăng tiết sữa.

Chữa tưa lưỡi trẻ em: phơi lá mít vàng cho thật khô rồi đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa lưỡi 2 - 3 lần/ngày, tối 1 lần.

Chữa trẻ tiểu cặn trắng: lấy 20 - 30g lá già của cây mít mật, thái nhỏ, sao vàng, nấu nước uống.

Chữa hen suyễn: lấy lá mít, lá mía, than tre, cả 3 thứ có lượng bằng nhau sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa mụn nhọt, lở loét: lấy lá mít tươi giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ làm giảm sưng đau. Hoặc dùng lá mít khô nấu cô đặc thành cao, bôi lên vết lở loét sẽ mau khỏi.

Vị thuốc từ nhựa mít: vỏ cây mít có nhiều nhựa, cũng thường được dùng làm thuốc chữa nhọt vỡ mủ. Hoặc có thể dùng nhựa mít trộn với giấm, bôi lên chỗ mụn nhọt sưng tấy.

Thuốc an thần, hạ áp (kể cả co quắp): gỗ mít tươi đem mài lên miếngđá nhám, hoặc chỗ nhám của trôn bát,cho thêm ít nước (nước sẽ vẩn đục dochất gỗ và nhựa mít), ngày uống từ 6 -10g, ngày uống 1 thang, chia 3 lần.

Làm an thần: dùng khoảng 20g gỗphơi khô (hay vỏ thân gỗ), chẻ nhỏ,sắc với 200ml nước còn 50ml, uống mộtlần trong ngày, chia 3 lần. Cần uống vàingày liền

BÀI THUỐC DÂN GIAN TRỊ CẢM CÚM ĐƠN GIẢN MÀ HIỆU QUẢ

Cảm cúm gây nhức đầu, khó chịu cho những ai mắc phải nó. Tuy nhiên có rất nhiều cách hiệu quả giúp bạn nhanh chóng đẩy lùi căn bệnh khó chịu này.

                                                                            Ảnh Minh Họa

Cảm cúm là một bệnh thường gặp ở cả người lớn lẫn trẻ nhỏ mỗi khi thời tiết thay đổi hay cơ thể bị nhiễm lạnh. Qua đúc kết kinh nghiệm chữa bệnh, rất nhiều nước trên thế giới đã tìm ra các bài thuốc trị cảm cúm hiệu quả mà đơn giản.

Mỹ và bài thuốc từ “canh gà”

Ở Mỹ, canh gà được coi là món ăn có tác dụng giải độc rất tốt nhất khi bị cảm cúm. Thành phần dinh dưỡng và nhiệt lượng của canh gà giúp thông mũi, giải nhiệt, giảm mệt mỏi và giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục.

Phần Lan và bài thuốc từ “nước quả lí gai”

Ở Phần Lan, các bà các mẹ vẫn thường dùng nước quả lí gai để chữa cảm mạo. Người Phần Lan còn gọi quả lí gai là “A-mi-dan”, đơn giản bởi vì quả lí gai khô có khả năng chữa viêm A-mi-dan rất hiệu quả. Hàm lượng vitamin C trong quả lí gai gấp 3 đến 4 lần hàm lượng vitamin trong cam, bưởi.

Ấn Độ và bài thuốc từ “nước gừng”

Ấn Độ và Trung Quốc có cùng quan niệm trong việc sử dụng gừng để trị cảm cúm. Thái 4 đến 5 lát gừng mỏng cho vào nước đun sôi 5-10 phút sau đó đổ ra cốc, cho 1 thìa cà phê đường trắng vào khuấy đều và uống nóng. Một ngày uống 3 lần và tốt nhất là uống trước khi ngủ sẽ mang lại hiệu quả tức thì.

New Zealand và bài thuốc từ “chanh và mật ong”

Ở New Zealand, người ta thường hòa 1-2 thìa cà phê mật ong với nước chanh là bài thuốc dân gian trị cảm cúm nổi tiếng. Người dân ở đây cho rằng mật ong có khả năng giải độc cơ thể, chữa ho. Chanh có tác dụng tăng cường miễn dịch giúp cơ thể cân bằng trở lại.

Nam Phi và bài thuốc từ “bia gừng”

Gừng được coi là thần dược trong việc trị cảm cúm, chỉ với 2 thìa cà phê mật ong, nước cốt chanh, dầu khuynh diệp, 4 lát gừng cho vào đun sôi với bia sau đó bỏ ra uống khi còn ấm. Bạn sẽ thấy cơ thể chuyển biến rõ rệt, cảm gác mệt mỏi không còn nữa, những cơn hắt hơi cũng chấm dứt.